TÍCH HỢP SXSH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG HIỆU QUẢ

1. Tổng quan về hiện trạng sử
dụng điện ở Việt Nam:

Hiện nay, trong sản xuất công nghiệp, xây dựng dân dụng và giao thông
vận tải của nước ta, tình trạng lãng phí năng lượng rất lớn. Hiệu suất sử dụng
nguồn năng lượng trong các nhà máy điện đốt than, dầu chỉ đạt 28-32% thấp hơn
so với các nước phát triển 10%. Hiệu suất các lò hơi công nghiệp chỉ đạt khoảng
60%, thấp hơn mức trung bình của thế giới 20%.

Năng lượng tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm trong ngành công nghiệp của
nước ta cao hơn rất nhiều so với ccác nước phát triển. Ví dụ để sản xuất 1 tấn
thép từ nguyên liệu quặng, các nhà máy thép của ta cần 11,32-13,02 triệu Kcal,
trong khi mức tiên tiến của thế giới chỉ cần 4 triệu Kcal. Để sản xuất ra một
sản phẩm có giá trị như nhau , sản xuất công nghiệp của ta phải tiêu tốn năng
lượng gấp 1,5-1,7 so với các nước.

Cũng theo
tính toán cho thấy tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp sản xuất xi
măng, thép, sành sứ, đông lạnh, hàng tiêu dùng của nước ta có thể đạt trên 20%,
lĩnh vực dân dụng, giao thông vận tải có thể đạt trên 30%…

2. Giới thiệu:

2.1 SDNLHQ – trọng
tâm là giảm chi phí

Sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả

việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu
thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt
ra đối với quá trình sản xuất và đời sống.

Những nỗ lực cải thiện sử dụng năng lượng hiệu quả (SDNLHQ)
bắt đầu được tiến hành vào đầu những năm 70, chủ yếu là do nhu cầu giảm chi phí
sản xuất. Dù cho năng lượng là đầu vào thiết yếu của nhiều quy trình thì cũng
không nhất thiết phải là một thành phần chi phí quan trọng nhất. Điều này giải
thích tại sao những người thực hành SDNLHQ có xu hướng chú trọng vào thiết bị
chuyển hoá năng lượng (ít rủi ro hơn về việc làm phá vỡ quy trình) và luôn
tránh các giải pháp SDNLHQ có liên quan đến quy trình (mang tính chất rủi ro
hơn).

Không có một phương pháp luận chung và mang tính hệ
thống nào mô tả đặc tính của tiếp cận SDNLHQ mà những người thực hành SDNLHQ có
thể tham khảo. Theo đó, từng quốc gia đã phát triển những chiến lược của riêng
mình để giải quyết vấn đề sử dụng năng lượng hiệu quả và các chi phí năng lượng
đầu vào. Hiện nay, SDNLHQ luôn được xem xét dưới góc độ của nhiều bộ phận và vì
thiếu một phương pháp luận được xác lập nên thường được làm theo tập quán và
rời rạc.

 Rất
ít người thực hành SDNLHQ quan tâm về các kết quả môi trường khi thực hiện
SDNLHQ – mặc dù một số những giải pháp SDNLHQ đã mang lợi lợi ích cho môi
trường cũng không giành được nhiều sự chú ý về khía cạnh này. Đối với những
người thực hành SDNLHQ, giảm chi phí là một vấn đề tối quan trọng và họ vẫn ưu
tiên những giải pháp giúp tiết kiệm về mặt chi phí kể cả khi những giải pháp
này có tác động xấu đến môi trường.
 

2.2 Phương pháp luận SXSH –
SDNLHQ

Thông thường, đánh giá SDNLHQ được tiến hành là do
nhu cầu cần có giải pháp nhanh, thực hiện nhanh và cho lợi ích nhanh. Chính vì
vậy, các dự án và đánh giá SDNLHQ thường có xu hướng là dựa trên nhu cầu bắt
nguồn từ yêu cầu tình huống và thường dựa vào kinh nghiệm của chuyên gia SDNLHQ
thuê từ ngoài. Các công ty vẫn chưa nhận ra sự cần thiết phải phát  triển nguồn nội lực để thực hiện chương trình
cải thiện liên tục. Kết quả là, đánh giá SDNLHQ và việc thực hiện những dự án theo
đó thường mang tính chất tình thế, cục bộ, và được kết cấu ít logic hơn so với
đánh giá SXSH.

Để tích hợp SXSH-SDNLHQ một cách toàn diện thì đánh
giá SXSH-SDNLHQ, cũng giống như đánh giá SXSH, cũng phải được thực hiện có hệ
thống để đạt được hiệu quả cao nhất và đảm bảo được rằng kết quả thu được từ
việc thực hiện theo tiếp cận tích hợp này sẽ thống nhất với những điểm đã được xác
định khi lập kế hoạch cho toàn doanh nghiệp. Quy trình  thực hiện theo từng bước dựa trên một phương
pháp luận hiệu quả sẽ đảm bảo thu được lợi ích tối ưu từ các cơ hội
SXSH-SDNLHQ.

Phương pháp đánh giá phải linh hoạt để thích ứng
trong những tình huống và vấn đề bất ngờ và tạo điều kiện xác định được các
giải pháp. Phương pháp thực hiện ở hình thức nào sẽ phụ thuộc vào quy mô và
thành phần của công ty, vào việc sử dụng nguyên vật liệu và năng lượng và vào
các yếu tố cụ thể của sự hình thành chất thải.

 Phương
pháp đánh giá SXSH-SDNLHQ cũng cần phải đảm bảo sử dụng các nguồn lực có sẵn
(nhân công, máy móc, nguyên vật liệu, tiền vốn) một cách tốt hơn và thúc đẩy tư
duy logic và trình tự. Đánh giá SXSH-SDNLHQ là một cách làm hoàn hảo để xây
dựng văn hoá tránh lãng phí và tạo nên năng 
lực trong công  ty – một yếu tố
tối cần thiết đảm bảo tính bền vững lâu dài. Và cuối  cùng, để chương trình SXSH-SDNLHQ mang lại
hiệu quả và được duy trì liên tục thì cần có sự tham gia thực hiện của nhiều
người từ các bộ phận khác nhau trong công ty.

3. Lợi ích của việc tích hợp SXSH và
SDNLHQ:

3.1 Gói dịch vụ mở rộng
mang lại lợi ích lớn hơn (sự đồng vận)

 Khi tài nguyên được định giá ở mức thấp (hoặc có
thể được trợ giá) và/hoặc các vấn đề môi trường chưa được xem là quan trọng thì
giải pháp SXSH tự nó có thể không thu hút được nhiều sự quan tâm. Lúc đó, nếu
kết hợp với lợi ích từ SDNLHQ thì có thể đề xuất một gói giải pháp hấp dẫn hơn.
Tương tự, sự lôi cuốn của vấn đề giảm tiêu hao năng lượng trong thời điểm giá
năng lượng giảm xuống có thể được nhân lên khi kết hợp với SXSH. Tiếp cận
SXSH-SDNLHQ tích hợp đúc rút từ số lượng lớn hơn những thực hành sản xuất tốt
nhất nên mang lại các giải pháp kinh doanh toàn diện và có nhiều lợi ích hơn về
mặt kinh tế.

3.2 Thị phần của sản phẩm
được mở rộng hơn

 SXSH-SDNLHQ có thể giúp tạo ra những sản phẩm
thực sự “thân thiện với sinh thái”. Sản phẩm “xanh”, bảo đảm cả nhãn đánh giá
tính sinh thái và năng lượng, nên sẽ giúp sản phẩm có thêm lợi thế cạnh tranh –
có thể giành được thị phần tốt hơn.

3.3 Việc tích hợp bảo đảm cho tính bền vững của các giải pháp SDNLHQ

 Cho đến nay, tiếp cận SDNLHQ đang thịnh hành, về
bản chất, có định hướng theo nhiệm vụ (kiểu “kê toa”) và vì thế không
được xem là hoạt động quản lý hàng ngày tại doanh nghiệp. Một tình trạng phổ
biến là các chương  trình SDNLHQ kết thúc
ngay khi các nhà tư vấn rời khỏi công ty và kết quả là các chương trình vẫn
mang tính rời rạc và diễn ra trong thời gian ngắn. Ngược lại, áp dụng liên tục
là một đặc điểm chính của SXSH. Khi SXSH và SDNLHQ tích hợp, khái niệm
“liên tục”  mở rộng cho SDNLHQ
và do đó đảm bảo tính bền vững lâu dài cho thực hiện SDNLHQ.

3.4 Hỗ trợ thực hiện các hiệp định và nghị định thư toàn cầu

 Trong những năm gần đây một loạt các hiệp định
và nghị định thư của khu vực và toàn cầu đã được xây dựng nhằm giải quyết các
vấn đề về môi trường và năng lượng. SXSH-SDNLHQ có thể giúp kiểm soát những vấn
đề này dễ dàng hơn so với khi chỉ áp dụng SXSH hay SDNLHQ đơn lẻ. Một số quốc
gia ban hành luật về SXSH, một số quốc gia khác lại ban hành luật về SDNLHQ;
nếu kết hợp hai luật này sẽ giúp thực hiện đồng thời những biện pháp bảo toàn
nguyên vật liệu và năng lượng. Nhóm công tác SXSH-SDNLHQ có thể đóng vai trò
then chốt trong việc hỗ trợ chính phủ một quốc gia đạt được mục tiêu này.

3.5 Bớt lặp lại nhiệm vụ và
tạo ra sự đồng vận giữa các mục tiêu của SXSH và SDNLHQ

Khi không tích hợp, các chuyên gia SXSH và SDNLHQ mất
nhiều  thời gian để  thời gian 
thu  thập và phân tích dữ liệu một
cách riêng biệt và sau đó thực hiện các giải pháp tiết kiệm nguyên liệu và năng
lượng cũng theo cách đơn lẻ. Khi tích hợp, nỗ lực chung và đồng thời sẽ giúp
tiết kiệm nhiều thời gian thu thập và phân tích dữ liệu, và sẽ dẫn đến nhiều cách
thức đơn giản hơn để giải quyết những vấn đề độc lập về lãng phí nguyên vật
liệu và năng lượng.

3.6
Dễ dàng tiếp cận với nhiều nguồn vốn hơn

Có những nguồn vốn trong khu vực và trên toàn cầu chỉ
dành cho SXSH hoặc chỉ dành cho SDNLHQ. Có thể tiếp cận với tất cả những nguồn
vốn này bằng cách tích hợp SXSH-SDNLHQ.

3.7 SXSH-SDNLHQ mở đường cho việc thực hiện Hệ thống Quản lý Môi
trường (EMS)

 Tiếp
cận SXSH-SDNLHQ tích hợp, với phương pháp luận của mình sẽ giúp dễ dàng triển
khai và duy trì một Hệ thống Quản lý Môi trường (EMS)
toàn diện hơn.